NHỮNG QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
I./ Khái niệm:
Quy luật là mối liên hệ bản chất, tất nhiên, phổ biến, lập đi lập lại của các sự vật, hiện tượng giữa các yếu tố, thuộc tính tạo thành sự vật cũng như thuộc tính của cùng một sự vật.
Những đặc tính cơ bản của quy luật:
- Tính ổn định: lặp đi lặp lại mà không thay đổi hoặc ít thay đổi trong điều kiện nhất định.
VD: Trong điều kiện bình thưởng thì trẻ em sinh ra, lớn lên, trưởng thành, phát triển tâm sinh lý bình thường….
- Tính phổ biến: là những quy luật tác động trong tất cả các lĩnh vực: từ tự nhiên, xã hội cho đến tư duy
VD: Sự phát triển của con người dù ở đâu cũng giống nhau….
- Tính khách quan: Con người không thể tạo ra hoặc xóa bỏ được quy luật mà chỉ nhận thức và vận dụng nó trong thực tiễn
VD: Dù muốn hay không thì chúng ta vẫn lớn lên, vì cơ thể chúng ta tuân theo quy luật sinh trưởng của tự nhiên. Chúng ta không thể dùng suy nghĩ của mình mà dừng nó lại được
Chú ý:
+ Con người không thể sáng tạo ra quy luật nhưng tính sáng tạo của con người là phát hiện ra quy luật.
VD: Chặt phá rừng bừa bãi sẽ tác hại đến môi trường. Chúng ta có thể hạn chế tác hại của môi trường bằng cách ngăn chặn nạn phá rừng.
+ Ngay cả trong môi trường tự nhiên quy luật cũng…………….thiếu
VD: Các chất mới trong hóa học mà con người tạo ra.
Những quy luật cơ bản:
QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP (QUY LUẬT MÂU THUẪN)
Nhằm chỉ ra nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển.
1) Khái niệm:
- Mặt đối lập là sự khái quát những mặt, những thuộc tính, những khuynh hướng trái ngược nhau trong một chỉnh thể làm nên sự vật, hiện tượng. Tồn tại khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
VD: Trong nguyên tử có điện tử và hạt nhân; trong kinh tế thị trường có cung và cầu, hàng và tiền; trong sinh vật có đồng hoá và dị hoá, hấp thụ và bài tiết, di truyền và biến dị;..v..v..
VD:Giai cấp công nhân và giai cấp tư sản là hai mặt đối lập trong kết cấu mâu thuẫn giai cấp của xã hội tư bản.
Bruno: “Ai muốn tìm hiểu sâu xa của tự nhiên thì hãy nhìn điểm thấp nhất và cao nhất của vũ trụ”.
V.I. Lê nin viết “ Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những giải thích và một sự phát triển thêm”
- Thống nhất: Là hai mặt đối lập trong cùng một chỉnh thể ràng buộc, quy định nhau. Mặt đối lập này ràng buộc mặt đối lập kia, không có mặt này sẽ không có mặt kia. Sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề. Tuy nhiên, sự thống nhất này chỉ mang tính tương đối.
VD: Sự hoạt động trong một nhà máy có ông chủ và người làm thuê. Nếu không có người làm thuê với tư cách là bán sức lao động thì ông chủ sẽ không thể là người mua sức lao động.
VD: Trong sinh vật có hai mặt đối lập là đồng hóa và dị hóa thống nhất với nhau, nếu thiếu một trong hai mặt thì cây sẽ chết.
VD: Âm dương hòa hợp.
VD: Xấu và tôt…..
Theo Heracit: Các mặt đối lập gắn bó, quy định, ràng buộc nhau. Ông khẳng định, vũ trụ là một thể thống nhất nhưng trong lòng nó luôn diễn ra các cuộc đấu tranh của các lực lượng đối lập, nhờ vậy vũ trụ tồn tại và vận động.
Lênin: “Sự phân đôi của cái thống nhất và sự nhận thức các đối lập với nó đó là thực chất phép biên chứng”
- Đấu tranh: trong cùng một sự vật, các mặt đối lập luôn có tính chất đối lập nên không nằm yên bên nhau mà bài trừ, chuyển hóa cho nhau, đó chính là đấu tranh của mặt đối lập.
VD: Sự đấu tranh sinh tồn của động vật……
Karl Marx (1818 – 1883) viết: “Cái cấu thành bản chất của sự vận động biện chứng , chính là sự cùng nhau tồn tại của hai mặt mâu thuẫn, sự đấu tranh giữa hai mặt ấy và sự dung hợp của hai mặt ấy thành một phạm trù mới”.
Bruno: “các sắp xếp của tự nhiên………thiếu
Bruno: “hoàn toàn không đúng nếu cho rằng…..thiếu
- Mâu thuẫn: (Ở đây được hiểu là mâu thuẫn biện chứng) là sự thống nhất, ràng buộc nhau của các mặt đối lập trong cùng một sự vật. Mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và phát triển.
VD: Sự phát triển của cây xanh….
Theo Hêghen: “Mâu thuẫn là nguồn gốc của tất cả mọi sự vận động và của tất cả mọi sức sống”; “tất cả mọi vật đều có tính mâu thuẫn trong bản thân nó”; “mâu thuẫn thực tế là cái thúc đẩy thế giới”.
2) Nội dung quy luật:
- Quan điểm siêu hình: Không thừa nhận mâu thuẫn bên trong sư vật, phủ nhận mâu thuẫn bên trong sự vật:
+ Cho sự vật là cái gì đó đồng nhất, thuần túy.
+ Chỉ thừa nhận sự khác nhau, sự xung đột đối kháng của các sự vật, hiện tượng.
- Quan điểm DVBC: Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng mâu thuẫn do đó có tính khách quan và phổ biến.
VD: Sự phát triển của cây, của động vật…..
+ Sự vật cũ mất đi dẫn đến sự vật mới sinh ra và do đó sinh ra mâu thuẫn mới.
VD: A -> B -> C -> D
VD: Đồng hóa và dị hóa
+ Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là quá trình phức tạp, quá trình ấy có thể chia ra nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn có những đặc điểm riêng. Khi mới xuất hiện, mâu thuẫn thường được thể hiện dưới sự khác nhau của hai mặt và khi hai mặt đối lập ấy có khuynh hướng phát triển trái ngược nhau thì mâu thuẫn dần gay gắt đến một lúc khi có điều kiện chín mùi hai mặt sẽ chuyển hóa lẫn nhau (lưu ý:chuyển hóa ở đây là phát sinh một hình thức mới). Mâu thuẫn được giải quyết, kết quả là sự thống nhất của hai mặt đối lập cũ bị phá hủy, sự thống nhất của hai mặt đối lập mới hình thành cùng mâu thuẫn mới. Mâu thuẫn mới này lại triển khai rồi lại được giải quyết làm cho sự vật mới luôn luôn xuất hiện thay thế sự vật cũ. Vì vậy, không sự vật nào vĩnh viễn tồn tại.
VD: Thay đổi giai cấp: chế độ công xã nguyên thủy -> chế độ chiếm hữu nô lệ -> chế độ phong kiến -> tư bản chủ nghĩa ->…..
VD: Nền kinh tế VN chuyển hóa từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
V.I. Lênin viết: “ Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập”.
+ Do sự đồng nhất của các mặt đối lập mà trong sự triển khai mâu thuẫn, đến một mức nào đó, mặt đối lập này có thể chuyển hóa sang mặt đối lập kia – khi xét về một vài đặc trưng nào đó.
VD: Sự phát triển kinh tế trong chủ nghĩa tư bản phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản, nhưng lại tạo ra tiền đề cho sư thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội.
Kết luận: Khi mâu thuẫn được giải quyết thì sự thống nhất của hai mặt đối lập cũ được thay thế bằng sự thống nhất của hai mặt đối lập mới. Các mặt đối lập mới lại mâu thuẫn tiếp tục đấu tranh với nhau, cứ như thế mà sự vật vận động phát triển.
Cho nên, sự thống nhất của các mặt đối lập là tương đối, biểu hiện trạng thái đứng yên tương đối của sự vật. Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là tuyệt đối, biểu hiện sự vận động tuyệt đối của sự vật.
V.I.Lênin viết: “Sự thống nhất(phù hợp, đồng nhất, có tác dụng ngang nhau) của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối. Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối”.
Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là không thể tách rời nhau trong mâu thuẫn biện chứng. Sự vận động và phát triển bao giờ cũng là sự thống nhất giữa tính ổn định và tính thay đổi. Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập quy định tính ổn định và tính thay đổi của sự vật . Do đó mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển.
Phân loại mâu thuẫn:
a) Căn cứ vào tính chất của các quan hệ lợi ích, người ta chia mâu thuẫn trong xã hội thành mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng:
+ Mâu thuẫn đối kháng: là mâu thuẫn giữa giai cấp, tầng lớp…. khác biệt không có điểm chung, không thể điều hòa.
VD: Chủ nô và nông nô; địa chủ, tư bản và vô sản…..
+ Mâu thuẫn không đối kháng: Là mâu thuẫn giữa những lực lượng xã hội có lợi ích cơ bản thống nhất với nhau, chỉ đối lập về những lợi ích không cơ bản, cục bộ, tạm thời.
VD: Mâu thuẫn giữa lao động trí óc với lao động chân tay, giữa thành thị với nông thôn,..v..v
b) Căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét , người ta phân biệt thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.
+ Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập của cùng một sự vật.
VD: Trong phạm vi nước ta mâu thuẫn trong nội bộ nền kinh tế quốc dân là mâu thuẫn bên trong
+ Mâu thuẫn bên ngoài đối với một sự vật nhất định là mâu thuẫn diễn ra trong mối quan hệ sự vật đó với các sự vật khác
VD: Mâu thuẫn về kinh tế giữa nước ta với các nước ASEAN khác lại là mâu thuẫn bên ngoài.
Việc phân chia mâu thuẫn thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài chỉ là sự tương đối, tuỳ theo phạm vi xem xét
VD: Nếu trong phạm vi ASEAN thì mâu thuẫn giữa các nước trong khối lại là mâu thuẫn bên trong.
c) Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật, mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản:
+ Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, quy định sự phát triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật, nó tồn tại trong suốt quá trình tồn tại các sự vật. Mâu thuẫn cơ bản được giải quyết thì sự vật sẽ thay đổi cơ bản về chất.
VD:
+ Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn chỉ đặc trưng cho một phương diện nào đó của sự vật, nó không quy định bản chất của sự vật. Mâu thuẫn đó nảy sinh hay được giải quyết không làm cho sự vật thay đổi căn bản về chất .
VD:
d) Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật trong một giai đoạn nhất định, các mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu:
+ Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu của một giai đoạn phát triển nhất định của sự vật và chi phối các mâu thuẫn khác trong giai đoạn đó.
VD:
+ Mâu thuẫn thứ yếu là những mâu thuẫn ra đời và tồn tại trong một giai đoạn phát triển nào đó của sự vật nhưng nó không đóng vai trò chi phối mà bị mâu thuẫn chủ yếu chi phối
VD:
3) Ý nghĩa phương pháp luận:
- Thừa nhận tính khách quan của mâu thuẫn trong các sự vật, hiện tượng.
- Biết phân tích cụ thể một mâu thuẫn cụ thể và tìm cách giải quyết cụ thể đối với từng mâu thuẫn. Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi điều kiện đã chín muồi.
- Nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn, đó chính là đấu tranh giữa các mặt đối lập chứ không thể dung hòa các mặt đối lập. Phải có biện pháp thích hợp cho từng mâu thuẫn.
VD:Muốn thúc đẩy chất lượng học tập của tập thể lớp lên cao thì phải nêu cao tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình.
V.I.Lênin viết: “ Sự phân đôi của cái thống nhất và sự nhận thức của các bộ phận của nó, đó là thực chất…của phép biện chứng”.
QUY LUẬT THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG CHUYỂN THÀNH THAY ĐỔI VỀ CHẤT.
1) Khái niệm:
a) Chất: Là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định bên trong vốn có của sự vật, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính, làm cho nó là nó và phân biệt nó với các sự vật khác.
VD: Kết hợp giữa oxi và hidro tạo thành nước
Các đặc điểm của chất:
+ Biểu hiện trạng thái ổn định của sự vật làm cho nó tồn tại mà chưa biến thành cái khác.
VD: Từ 0 -> 100 độ thì nước giữ ở trạng thái là chất lỏng.
+ Chất biểu hiện tính thống nhất, tính toàn vẹn của sự vật, hiện tượng, gắn liền kết cấu của sự vật, nghĩa là dưới hình thức tổ chức nhất định của các yếu tố cấu thành sự vật, là sự tổng hợp những thuộc tính tổng hợp. Là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính.
VD: Viên phấn thì có nhiều yếu tố bên trong như: trắng, rắn, không mùi, vôi….. (gồm yếu tố cơ bản và không cơ bản)
+ Những thuộc tính cơ bản được tổng hợp lại tạo thành chất của sự vật. Chính chúng quy định sự tồn tại, sự vận động và sự phát triển của sự vật, chỉ khi nào chúng thay đổi hay mất đi thì sự vật mới thay đổi hay mất đi. Tuy nhiên, sự phân chia thuộc tính thành thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản cũng chỉ mang tính chất tương đối, tùy theo từng mối quan hệ
VD: Trong môt tác phẩm văn học bao gồm các yếu tố như: Chủ đề, nội dung, nghệ thuật, giá trị tư tưởng….. Trong đó giá trị tư tưởng là cơ bản nhất.
VD 2: Kim cương và than chì đều có cùng thành phần hoá học là nguyên tố các bon tạo nên; nhưng do phương thức liên kết giữa các nguyên tử các bon là khác nhau, vì thế chất của chúng hoàn toàn khác nhau. Kim cương rất cứng, còn than chì lại rất mềm.
+ Tính khách quan: Trong hiện thực khách quan không thể tồn tại sự vật không có chất và không thể có chất nằm ngoài sự vật.
Beccoli: “ Chất là do cảm giác của ta mà có”
+ Chất không chỉ bao hàm những yếu tố làm cho sự vật khác nhau mà còn bao hàm những yếu tố chung giống nhau giữa các sự vật.
VD: Động vật và thực vật có các yếu tố khác nhau nhưng cũng có những điểm giống nhau như: cơ quan dinh dưỡng…..
b) Lượng: Là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật, hiện tượng về quy mô, trình độ phát triển và được biểu thị bằng quy mô, các thuộc tính, các yếu tố cấu thành nó.
VD: 1 lượng, hai lượng, 1 mét, 2 mét,…. Cũng có những lượng biểu thị dưới dạng trừu tượng như: tri thức, ý thức….
Engles (1820 – 1895) cho rằng: những chất lượng không tồn tại, mà những sự vật có chất lượng, hơn nữa, những sự vật có vô vàn chất lượng mới tồn tại.
Đặc điểm của lượng:
+ Lượng chưa nói rõ được sự khác nhau cơ bản của sự vật, hiện tượng.
+ Biểu hiện về mặt thông số, lượng….
+ Sự vật càng phức tạp thì các thông số về lượng càng phức tạp.
+ Trong mối quan hệ này, lượng như là nhân tố bên trong sự vật, trong mối quan hệ khác, lượng như là nhân tố bên ngoài sự vật.
+ Có tính khách quan.
2) Nội dung:
- Mỗi sự vật hiện tượng là một thể thống nhất giữa chất và lượng, hai mặt đó không tách rời nhau mà tác động lẫn nhau. Trong sự vật, tính quy định về chất sẽ không tồn tại nếu không có tính quy định về lượng và ngược lại khi sư vật đang tồn tại, chất và lượng thống nhất với nhau ở một độ nhất định.
+ “Độ” là khái niệm triết học chỉ sự thống nhất giữa chất và lượng, là giới hạn mà trong đó sự vật, hiện tượng vẫn còn là nó, chưa bị biến thánh cái khác.
+ Nói cách khác, chất nào thì lượng ấy. Không phải lượng nào cũng phù hợp chất ấy mà chỉ ở một hạn nhất định nếu vượt quá thì thành chất khác.
VD: Nước là chất lỏng ở từ 0 ->100 độ,…
+ Trong phạm vi 1 độ nhất định, hai mặt chất và lượng tác động nhau làm cho sư vật vận động biến đổi. Chính sự thay đổi dần về lượng dẫn đến thay đổi về chất. Chất đổi tức là sự vật cũ biến thành sự vật mới.
- Không phải bất kỳ sự thay đổi nào về lượng cũng dẫn đến sự thay đổi về chất ngay tức khắc, mặc dù bất kỳ sự thay đổi nào về lượng cũng ảnh hưởng đến trạng thái tồn tại của sự vật. Chỉ khi nào lượng biến đổi đến một giới hạn nhất định (điểm nút) thì mới dẫn đến sự thay đổi về chất. Sự thay đổi căn bản về chất được gọi là bước nhảy
+ “Điểm nút”: là khái niệm chỉ giới hạn mà tại đó sự thay đổi lượng dẫn đến thay đổi chất của sự vật. Chất mới của sự vật chỉ có thể xuất hiện khi sự thay đổi về lượng của nó đạt tới điểm nút.
VD: Điểm nút của nước ở 0 độ và 100 độ
+ “Bước nhảy”: Từ hình thức này chuyển thành hình thức khác. Gồm: bước nhảy toàn bộ và bước nhảy cục bộ…..
VD: Cây non -> cây xanh -> cây khô.
VD: Sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đang diễn ra từng bước nhảy cục bộ để thực hiện bước nhảy toàn bộ, tức là chúng ta đang thực hiện những bước nhảy cục bộ ở lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực chính trị, lĩnh vực xã hội và lĩnh vực tinh thần xã hội để đi đến bước nhảy toàn bộ - xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta.
Lênin nhấn mạnh: “tính tiệm tiến mà không có bước nhảy vọt, thì không giải thích được gì cả”.
Như vậy, sự phát triển của bất cứ của sự vật nào cũng bắt đầu từ sự tích luỹ về lượng trong độ nhất định cho tới điểm nút để thực hiện bước nhảy về chất. Song điểm nút của quá trình ấy không cố định mà có thể có những thay đổi do tác động của những điều kiện khách quan và chủ quan quy định
Chú ý: Cần phân biệt sự biến đổ về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất. Lượng đổi trong một phạm vi nào đó vẫn chưa tác động đến chất. Nhưng biến đổi đến giới hạn nhất định dẫn đến biến đổi chất. Tức là chất đổi tạo ra sự vật khác.
Marx: “Những thay đổi đơn thuần về lượng đến một mức độ nhất định sẽ chuyển hóa thành sự khác nhau về chất”.
Kết luận:
Mọi sự vật đều là sự thống nhất giữa lượng và chất, sự thay đổi dần dần về lượng trong khuôn khổ của độ tới điểm nút sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất của sự vật thông qua bước nhảy; chất mới ra đời tác động trở lại sự thay đổi của lượng mới. Quá trình tác động đó diễn ra liên tục làm cho sự vật không ngừng phát triển, biến đổi
Khái niệm tiến hóa và khái niệm cách mạng:
+ Tiến hóa: là sự thay đổi về lượng cùng với những biến đổi nhất định về chất, nhưng là chất không căn bản của sư vật.
VD: Công xã nguyên thủy -> chế độ chiếm hữu nô lê -> chế độ phong kiến -> chế độ tư bản chủ nghĩa -> chế độ xã hội chủ nghĩa……
+ Cách mạng: là sự thay đổi mà trong quá trình đó diễn ra sự cải tạo căn bản về chất của sự vật, không phụ thuộc vào sự cải tạo đó diễn ra như thế nào.
VD: Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ nhất…..
Victo Hugo: “Những vùng vẫy thô bạo của tiến hóa là những cuộc cách mạng và qua rồi người ta nhận thấy điều này là nhân loại sẽ bị dày vò nhưng nhân loại đã tiến lên”
3) Ý nghĩa phương pháp luận:
- Giúp chúng ta khắc phục tư tưởng nôn nóng, tả khuynh:
+ Tả khuynh: khi mà lượng chưa cho phép thì chư thể thực hiện bước nhảy về chất
VD: Những cuộc cách mạng thất bại của nước ta: 1940 khởi nghĩa Nam Kỳ, khởi nghĩa Mậu Thân 1968….
VD: Sinh viên thi rớt, không ra trường được là do lười biếng không chiu khó học.
- Giúp khắc phục tư tưởng bảo thủ triệt để, hữu khuynh.
+ Hữu khuynh: khi sự vật đã tích lũy đủ về lượng rồi mà vẫn chưa dám thay đổi về chất.
VD: Học anh văn tốt nhưng không dám đi thi; ôn thi rất kỹ nhưng vẫn không dám đang ký thi đại học…..
- Biết tôn trọng tính khách quan của quy luật và quyết tâm thực hiện bước nhảy khi hội đủ các điều kiện chín muồi..
QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH
1) Khái niệm:
- Phủ định: Là chỉ sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác trong quá trình vận động và phát triển.
Trong ý thức thông thường, khái niệm “phủ định” thường được thể hiện bằng từ “không” bác bỏ một cái gì đó. Trong phép biện chứng, phủ định được xem là nhân tố của sự phát triển. Do vậy, khái niệm phủ định có ý nghĩa sâu sắc hơn so với cách sử dụng trong đời thường. Để đặc trưng cho điều đó, người ta đưa khái niệm phủ định biện chứng.
- Phủ định biện chứng: Là quá trình tự thân phủ định, tư thân phát triển, là một mắt khâu trên con đường dẫn tới sự ra đời cái mới tiến bộ hơn so với cái bị phủ định.
VD: Trong sinh vật các giống loài đều có tính di truyền, các thế hệ con cái đều kế thừa những yếu tố tích cực của các thế hệ bố mẹ.
Karl Marx (1818-1883): “Không có lãnh vực nào lại có sự phát triển mà không phủ định những hình thức đã có từ trước”
Friedrich Engels (1820-1895): “Phủ định trong phép biện chứng”
2) Các đặc điểm:
+ Tính khách quan: Là nguyên nhân của sự phủ định các mới ra đời từ cái cũ, là giải quyết mâu thuẫn bên trong sự vật, không do ý muốn con người.
VD: Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, xã hội mới ra đời trên cơ sở kế thừa những giá trị vật chất và tinh thần của xã hội trước, đồng thời bổ sung thêm những giá trị mới.
+ Tính kế thừa: Không phải là phủ định sạch trơn, tuyệt đối mà là có tính kế thừa. Kế thứa có chọn lọc, có cân nhắc, hoàn thiện hơn sự vật cũ.
VD: Phủ định chủ nghĩa tư bản để phát triển lên XHCN cần giữ lại những thành tựu của nó và phát triển trên cơ sở những nguyên tắc của CNXH. …
VD: Chọn lọc tự nhiên,….
Với nghĩa như vậy, phủ định đồng thời cũng là khẳng định.
Lênin viết: “Không phải sự phủ định sạch trơn, không phải sự phủ định không suy nghĩ, không phải sự phủ định hoài nghi, không phải sự do dự; cũng không phải sự nghi ngờ là cái đặc trưng và cái bản chất trong phép biện chứng… mà là sự phủ định coi như là vòng khâu của liên hệ, vòng khâu của sự phát triển, với sự duy trì cái khẳng định” (lenin toàn tập, nxb tiến bộ, mátxcơva, 1981, t.29, tr.245)
3) Nội dung quy luật:
- Trong sự vận động vĩnh viễn của vật chất, Phủ định biện chứng là một sợi dây chuyền vô tận, cái mới phủ định cái cũ nhưng rồi cái mới này lại trở nên cũ và lại bị cái mới sau phủ định. Sự phát triển của sự vật thông qua những lần phủ định như thế tạo ra một khuynh hướng phát triển tất yếu là đi từ thấp đến cao. Do đó không có phủ định đầu và cuối.
VD: Trong lĩnh vực nhận thức các học thuyết khoa học ra đời sau bao giờ cũng kế thừa những giá trị tư tưởng của các học thuyết khoa học ra đời trước.v.v.
- Quy luật phủ định của phủ định biểu hiện sự phát triển là do quy luật bên trong của sự vật. Một lần phủ định là kết quả của đấu tranh và chuyển hóa lẫn nhau trong bản thân sự vật. Đó chính là đấu tranh giữa mặt khẳng định và phủ định. Sự phủ định lần một làm sự vật cũ đối lập với mình. Phủ định lần hai sự vật mới chuyển thành cái đối lập với nó tức là trở lại cái ban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn.
Chu kỳ thông thường của phủ định:
- Chiều hướng cơ bản của sự vận động, biến đổi của thế giới là tiến lên. Sự phát triển của sự vật thông qua vô số chu kỳ của sự PĐBC mà trong 1 chu kỳ trải qua 2 lần phủ định cơ bản:
+ Lần phủ định thứ nhất: sự vật cũ chuyển thành cái đối lập với nó. Lần phủ định này mang tính chất phiến diện nhưng nó là lần PĐ trung gian cần thiết, tất yếu tạo điều kiện cho lần PĐ thứ 2
+ Lần phủ định thứ 2 (Phủ định của phủ định): sự vật mới ra đời, sự vật này đối lập với cái được sính ra ỏ lần phủ định 1, nó được bổ sung nhiều nhân tố mới.
Khẳng định -> phủ định -> phủ định của phủ định
VD: Thóc -> cây lúa -> thóc.
- Trong hiện thực 1 chu kỳ phát triển có thể nhiều hơn 2 lần phủ định.
VD: Con tằm: trứng -> tằm -> nhộng -> ngài -> trứng: 4 lần phủ định.
- Quy luật phủ định của phủ định khái quát tính tất yếu của sự vận động, phát triển của sự vật theo con đường phát triển tiến lên nhưng đó không phải là con đường thẳng tắp mà là con đường quanh co, phức tạp. Lênin hình dung đó là con đường xoáy ốc.
4) Ý nghĩa phương pháp luận:
- Giúp ta hiểu đúng su hướng của sự phát triển, đó là một con đường quanh co, phức tạp (đặc biệt là trong xã hội). Chúng ta phải tìm hiểu những đặc điểm đó để có cách tác động phù hợp sao cho sự phát triển nhanh hoặc phát triển chậm. Nếu sự vật có ích lợi cho con người thì phải đẩy nhanh sự phát triển của nó, còn nếu nó có hại thì phải kìm hãm sự phát triển của nó.
- Giúp ta hiểu biết đầy đủ hơn về cái mới để có một thái độ đúng mực trong việc ủng hộ cái mới. Đồng thời, chúng ta phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, khư khư giữ lấy những cái lỗi thời cản trở sự phát triển của con người và xã hội. Dù khi mới xuất hiện cái mới còn non yếu nó sẽ là cái chiến thắng.
Kết luận chung:
Mỗi quy luật cơ bàn của PBC đề cập một phương diện cơ bản của quá trình vận động và phát triển. Trong thực tế, sự vận động và phát triển của bất kỳ một sự vật hay hiện tượng nào cũng là sản phẩm tác động tổng hợp của tất cả các quy luật của PBC. Trong quá trình t ích lũy về lượng để tiến tới thay đổi về chất cũng phải chú ý phát hiện mâu thuẫn, tìm ra phương thức và lực lượng thích hợp để giải quyết mâu thuẫn. Bước nhảy được thực hiện, mâu thuẫn được giải quyết cũng tức là sự phủ định biện chứng được hình thành. Cho nên, trong toàn bộ quá trình trên đây, chúng ta cần phát hiện ra các yếu tố tích cực đang tồn tại trong sự vật, loại bỏ những yếu tố lỗi thời ngăn cản sự ra đời của cái mới.
.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét